您现在的位置是:NEWS > Công nghệ
Grab bị một loạt nước Đông Nam Á điều tra vì mua Uber
NEWS2025-04-03 18:36:49【Công nghệ】2人已围观
简介Sau khi nuốt chửng đối thủ tại Đông Nam Á,ịmộtloạtnướcĐôngNamÁđiềutravìbảng xếp hạng vòng loại worldbảng xếp hạng vòng loại world cup khu vực nam mỹbảng xếp hạng vòng loại world cup khu vực nam mỹ、、
Sau khi nuốt chửng đối thủ tại Đông Nam Á,ịmộtloạtnướcĐôngNamÁđiềutravìbảng xếp hạng vòng loại world cup khu vực nam mỹ Grab có thể bị chính quyền các nước theo dõi sát sao hơn nếu có động thái lạm dụng vị trí độc tôn.
>>Khách hàng chưa lên xe, GrabTaxi vẫn trừ tiền tài khoản很赞哦!(77)
相关文章
- Nhận định, soi kèo Celta Vigo vs Las Palmas, 2h00 ngày 1/4: Nối dài mạch thắng
- Công Lý trở lại Táo Quân 2023
- Hyun Bin và Son Ye Jin lần đầu xuất hiện cùng nhau trong lễ tình nhân
- Mỹ nhân 'Cinderella' mặc đẹp như công chúa
- Soi kèo góc Wolves vs West Ham, 1h45 ngày 2/4
- Thượng úy công an gây chú ý trong phim 'Hành trình công lý' là ai?
- Chất vấn ngành tài chính để hoàn thiện khung pháp luật, lành mạnh hóa thị trường
- Thầy Đỗ Việt Khoa: 'Họ còn cấm tôi vào trường!'
- Nhận định, soi kèo U21 Bristol City vs U21 Hull City, 20h00 ngày 1/4: Điểm tựa sân nhà
- Hoa hậu Emily Hồng Nhung mặc khoét sâu ngực, chân váy xuyên thấu
热门文章
站长推荐
Nhận định, soi kèo Wolves vs West Ham, 1h45 ngày 2/4: Sức nặng của Búa tạ
BBC xây mái chống bom bảo vệ phóng viên
- Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, Tiếng Anh là môn Ngoại ngữ 1, bắt đầu học từ lớp 3 đến lớp 12, xác định năng lực giao tiếp là mục tiêu của quá trình dạy học.
Là một trong những môn học công cụ ở trường phổ thông, môn Tiếng Anh không chỉ giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh mà còn góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung; để sống và làm việc hiệu quả hơn; để học tập tốt các môn học khác cũng như để học suốt đời.
Môn Tiếng Anh cung cấp cho học sinh một công cụ giao tiếp quốc tế quan trọng, giúp các em trao đổi thông tin, tri thức khoa học và kỹ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá, qua đó góp phần tạo dựng sự hiểu biết giữa các dân tộc, hình thành ý thức công dân toàn cầu, góp phần vào việc phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân.
Ảnh minh họa: Thanh Hùng. Nội dung cốt lõi của môn học giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp thông qua rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và các kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp). Các kỹ năng giao tiếp và kiến thức ngôn ngữ được xây dựng trên cơ sở các đơn vị năng lực giao tiếp cụ thể, trong các chủ đề và chủ điểm phù hợp với học sinh phổ thông nhằm giúp các em khi kết thúc cấp tiểu học đạt được năng lực giao tiếp Bậc 1, khi kết thúc bậc THCS đạt được Bậc 2 và khi kết thúc cấp THPT đạt Bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.
Năng lực giao tiếp là mục tiêu của quá trình dạy học
Chương trình nhấn mạnh một số quan điểm sau: Xây dựng dựa trên nền tảng lý luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học hiện đại; năng lực giao tiếp là mục tiêu của quá trình dạy học; kiến thức ngôn ngữ là phương tiện để hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp thông qua nghe, nói, đọc, viết; xây dựng theo hướng mở; không quy định chi tiết về nội dung dạy học mà chỉ qui định những yêu cầu cần đạt về năng lực giao tiếp nghe, nói, đọc và viết cho mỗi lớp và gợi ý một số chủ đề, chủ điểm chính gắn với chuẩn đầu ra từng cấp học; đảm bảo lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học; đảm bảo tính liên thông và tiếp nối của việc dạy học Tiếng Anh giữa các cấp; đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo và tính mở nhằm đáp ứng nhu cầu và phù hợp với điều kiện dạy học tiếng Anh đa dạng ở các địa phương.
Chương trình giúp học sinh có một công cụ giao tiếp mới, hình thành và phát triển cho học sinh năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh thông qua các hình thức nghe, nói, đọc, viết. Kết thúc chương trình giáo dục phổ thông, học sinh có khả năng giao tiếp đạt trình độ Bậc 3 của Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam tạo nền tảng có thể sử dụng tiếng Anh trong học tập, hình thành thói quen học tập suốt đời để trở thành những công dân toàn cầu trong thời kỳ hội nhập.
Giúp học sinh hiểu biết khái quát về một số nước nói tiếng Anh
Chương trình giúp học sinh có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hoá của một số nước nói tiếng Anh; có thái độ và tình cảm tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hoá và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh.
Ngoài ra, Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh cũng góp phần hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất và năng lực cần thiết đối với người lao động: ý thức và trách nhiệm lao động, định hướng và lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích, khả năng thích ứng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp mới.
Nội dung văn hoá được dạy học lồng ghép, tích hợp
Nội dung dạy học được thiết kế theo kết cấu đa thành phần, bao gồm: hệ thống các chủ đề (khái quát), các chủ điểm (cụ thể) mang tính gợi ý; các năng lực giao tiếp phù hợp với chuẩn năng lực cần đạt; danh mục kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) gợi ý phù hợp với việc phát triển năng lực giao tiếp ở cấp độ đã được qui định trong chuẩn đầu ra. Nội dung văn hoá được dạy học lồng ghép, tích hợp trong hệ thống các chủ đề, chủ điểm.
Các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp tập trung vào năng lực giao tiếp ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc và viết. Năng lực giao tiếp của môn tiếng Anh là khả năng sử dụng kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) để tham gia vào các hoạt động giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) trong những tình huống hay ngữ cảnh có nghĩa với các đối tượng giao tiếp khác nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu giao tiếp của bản thân hay yêu cầu giao tiếp của xã hội.
Ảnh minh họa: Thanh Hùng. Nội dung dạy học cả về năng lực giao tiếp lẫn kiến thức ngôn ngữ đều dựa trên yêu cầu của năng lực giao tiếp Bậc 1, 2 và 3 trong Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Cụ thể:
Các nội dung dạy học ở bậc tiểu học cần đảm bảo giúp học sinh có khả năng “hiểu, sử dụng các cấu trúc quen thuộc thường nhật; các từ ngữ cơ bản đáp ứng nhu cầu giao tiếp cụ thể. Có thể tự giới thiệu bản thân và người khác; có thể trả lời những thông tin về bản thân như nơi sinh sống, người thân/ bạn bè,… Có thể giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ”;
Các nội dung dạy học ở bậc THCS cần đảm bảo giúp học sinh có khả năng “hiểu được các câu và cấu trúc được sử dụng thường xuyên liên quan đến nhu cầu giao tiếp cơ bản (như các thông tin về gia đình, bản thân, đi mua hàng, hỏi đường, việc làm,…). Có thể trao đổi thông tin về những chủ đề đơn giản, quen thuộc hằng ngày. Có thể mô tả đơn giản về bản thân, môi trường xung quanh và những vấn đề thuộc nhu cầu thiết yếu”;
Các nội dung dạy học ở bậc THPT cần đảm bảo giúp học sinh có khả năng “hiểu được các ý chính của một đoạn văn hay bài phát biểu chuẩn mực, rõ ràng về các chủ đề quen thuộc trong công việc, trường học, giải trí,... Có thể xử lý hầu hết các tình huống xảy ra ở những nơi ngôn ngữ đó được sử dụng. Có thể viết đoạn văn đơn giản liên quan đến các chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân quan tâm. Có thể mô tả được những kinh nghiệm, sự kiện, ước mơ, hy vọng, hoài bão và có thể trình bày ngắn gọn các lý do, giải thích ý kiến và kế hoạch của mình”.
Giáo viên cần tạo cơ hội tối đa để học sinh sử dụng tiếng Anh
Đường hướng chủ đạo trong chương trình môn Tiếng Anh là đường hướng giao tiếp. Nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp của học sinh. Các phương pháp giao tiếp có những điểm tương đồng với đường hướng lấy người học làm trung tâm trong giáo dục học. Đường hướng chủ đạo này quy định các hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh.
Giáo viên cần hiểu rõ đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh ở các cấp học khác nhau, coi học sinh là những chủ thể tích cực tham gia vào quá trình học tập. Giáo viên tạo cơ hội cho học sinh sử dụng ngôn ngữ trong các ngữ cảnh, tình huống có nghĩa, sát với cuộc sống hằng ngày, dành thời gian cho học sinh tham gia vào các hoạt động giao tiếp thông qua nghe, nói, đọc và viết. Giáo viên sử dụng tiếng Anh trong quá trình dạy học trên lớp và tạo cơ hội tối đa để học sinh sử dụng tiếng Anh trong và ngoài lớp học.
Giáo viên sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện học tập ở địa phương, sử dụng hiệu quả các đồ dùng, thiết bị dạy học hiện đại trong quá trình dạy học, hướng dẫn học sinh sử dụng đồng bộ các tài liệu và phương tiện học tập như sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, học liệu điện tử, thiết bị nghe nhìn, công nghệ thông tin và truyền thông... để nâng cao hiệu quả dạy học.
Việc đánh giá hoạt động học của học sinh phải bám sát mục tiêu và nội dung dạy học của chương trình, dựa trên yêu cầu cần đạt đối với các kỹ năng giao tiếp ở từng cấp lớp. Nội dung và hình thức kiểm tra đánh giá cần bám sát mục tiêu dạy học, có tính đến những thay đổi trong mục tiêu từng cấp, như cấp tiểu học ưu tiên vào nghe và nói, cấp THCS nhấn mạnh đến phối hợp giữa các kỹ năng và cấp THPT chú trọng đến cân bằng giữa bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Hoạt động kiểm tra đánh giá cần được thực hiện theo hai hình thức: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ. Đánh giá thường xuyên được thực hiện liên tục thông qua các hoạt động dạy học trên lớp. Trong quá trình dạy học, cần chú ý ưu tiên đánh giá thường xuyên nhằm giúp học sinh và giáo viên theo dõi tiến độ thực hiện những mục tiêu đã đề ra.
Thanh Hùng
Dự thảo chương trình môn Tiếng Anh từ lớp 3 đến lớp 12
Dưới đây là dự thảo Chương trình môn Tiếng Anh từ lớp 3 đến lớp 12.
">Chương trình môn Tiếng Anh mới ở phổ thông xác định năng lực giao tiếp là mục tiêu
- Cùng ngắm những trang phục street style cực kỳ ấn tượng và thời trang của saoViệt tuần qua.Thanh Phương(tổng hợp)">
Trà Ngọc Hằng khoe eo con kiến, Angela Phương Trinh hóa tomboy
Nhận định, soi kèo Spartak Varna vs Botev Vratsa, 20h15 ngày 1/4: Khó tin cửa trên
Là sàn giao dịch lớn thứ hai trên thế giới, Nasdaq đã đánh dấu cột mốc lịch sử khi trở thành sàn chứng khoán điện tử hoàn toàn đầu tiên trên thế giới vào năm 1971. (Ảnh minh họa: Internet) Bên cạnh đó, với sự bảo trợ của Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) trực thuộc Bộ KH&ĐT, VietChallenge sẽ hợp tác đưa các đội đến tham dự Vietnam Venture Summit - một trong những sự kiện hệ sinh thái đầu tư và đổi mới lớn nhất tại Việt Nam, được tổ chức bởi Bộ KH&ĐT, có sự tham gia của các quỹ đầu tư, công ty, nhà sáng lập, và các nhà hoạch định chính sách quan trọng trong khu vực Đông Nam Á.
Với chủ đề “Grit", mang ý nghĩa sự bền bỉ và quyết tâm, chuỗi sự kiện chung kết của VietChallenge 2022 sẽ kéo dài trong suốt 1 tuần và quy tụ các nhà đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm cùng những người sáng lập trong mạng lưới của chương trình đến trung tâm Nasdaq Marketsite tại quảng trường Thời Đại, trái tim thành phố New York, Mỹ.
Vân Anh
">Chung kết cuộc thi khởi nghiệp VietChallenge 2022 được tổ chức tại Mỹ
- Đó là thông tin được Bộ GD-ĐT xác định để chuẩn bị cho triển khai áp dụng chương trình phổ thông mới tại hội nghị triển khai công tác chuẩn bị các điều kiện để áp dụng chương trình, SGK mới do Sở GD-ĐT Hà Nội tổ chức ngày 20/1.
Thiếu hàng nghìn giáo viên ở cấp Tiểu học
Để chuẩn bị các điều kiện áp dụng chương trình, SGK mới, Bộ GD-ĐT đã có báo cáo kết quả rà soát thực trạng điều kiện về đội ngũ giáo viên hiện nay và dự báo nhu cầu cho chương trình mới.
Theo Bộ GD-ĐT, nhu cầu về giáo viên ở các cấp để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới về cơ bản không có sự biến động nhiều so với số giáo viên hiện có.
Đối với tiểu học, bình quân 1 năm có 2% giáo viên nghỉ hưu, tương đương với 7940 giáo viên, như vậy, số được tuyển mới bổ sung thay thế giáo viên nghỉ hưu hàng năm sẽ khoảng 3.970 giáo viên, cộng với mỗi năm tuyển mới khoảng 3.900 giáo viên do tăng quy mô, trung bình mỗi năm sẽ tuyển mới khoảng hơn 7.000 nghìn giáo viên.
Các đại biểu dự hội nghị trực tuyến của Hà Nội về chuẩn bị cho chương trình giáo dục phổ thông mới sáng 20/1. Ảnh: Thanh Hùng Do đó, theo Bộ GD-ĐT, các địa phương cần tính toán cụ thể số lượng giáo viên cần tuyển theo nhu cầu từng năm, ưu tiên tuyển dụng giáo viên tiểu học, giáo viên tiếng Anh, Tin học còn thiếu, hạn chế hoặc không tuyển giáo viên các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục, vì các môn học này giáo viên tiểu học đã được đào tạo để dạy.
Theo tính toán của Bộ GD-ĐT, căn cứ vào lộ trình triển khai, bắt đầu từ năm học 2021-2022 đến năm học 2023-2024, mỗi năm học sẽ phải tuyển bổ sung khoảng 2.000 giáo viên tiếng Anh và khoảng 2.000 giáo viên Tin học.
Đồng thời, cần rà soát để tuyển dụng số giáo viên tiếng Anh, Tin học còn trong diện hợp đồng lao động.
Hiện cả nước thiếu khoảng 5.616 giáo viên tiếng Anh, 5.607 giáo viên Tin học ở tiểu học.
Dấu (+) là số GV thừa so với tổng số GV hiện có, dấu (-) là số GV thiếu so với tổng số GV hiện có Có thể tạm dừng tuyển mới để giải quyết tình trạng thừa giáo viên THCS
Ở cấp THCS, bình quân 1 năm có 2% giáo viên THCS nghỉ hưu, tương đương với 6.219 giáo viên, như vậy số tuyển bổ sung thay thế nghỉ hưu là 3.110, cộng với số giáo viên cần tuyển mới do tăng quy mô học sinh là 1.250 GV.
So với số giáo viên THCS đang thừa là 9.246 (tính đến thời điểm tháng 11/2017) thì các địa phương cần tính toán cụ thể số lượng giáo viên cần tuyển mới, trong đó ưu tiên tuyển giáo viên cho những môn học còn thiếu.
Đối với giáo viên dạy môn Tin học trong chương trình mới (theo chương trình hiện hành là môn học tự chọn) đã được bố trí cơ bản là đủ cho các trường THCS.
Bộ GD-ĐT cho rằng, đối với các địa phương đang thừa giáo viên, trong khoảng 3 năm học tới, có thể tạm dừng tuyển mới để giải quyết dứt điểm tình trạng thừa giáo viên. Đồng thời, rà soát, sắp xếp, điều tiết giáo viên hợp lý giữa các trường trên cùng địa bàn để bảo đảm hợp lý về số lượng giáo viên và cơ cấu môn học cho từng trường THCS theo số lượng hiện có.Tuy nhiên, các địa phương cần rà soát để xác định giáo viên đã được tuyển dụng (biên chế), giáo viên hợp đồng để có phương án tuyển dụng ngay từ năm học 2018-2019.
Dấu (+) là số GV thừa so với tổng số GV hiện có, dấu (-) là số GV thiếu so với tổng số GV hiện có Về cấp THPT, bình quân 1 năm có 2% số giáo viên nghỉ hưu, tương đương với khoảng 3.014 giáo viên, số được tuyển mới bổ sung thay thế giáo viên nghỉ hưu hàng năm sẽ khoảng 1.507 giáo viên, cộng với số giáo viên cần tuyển mới do tăng quy mô học sinh là 2.250.
Theo Bộ GD-ĐT, trên cơ sở số giáo viên thừa khoảng 8.874 giáo viên THPT khi thực hiện chương trình mới, các địa phương cần tính toán nhu cầu tuyển mới từ nay đến năm 2025 để vừa giải quyết bài toán thừa và nhu cầu tuyển bổ sung.
Trong đó để ưu tiên tuyển giáo viên dạy môn Nghệ thuật 5.400 người (Âm nhạc 2.700, Mỹ thuật 2.700) để bắt đầu dạy từ năm 2021.
Dấu (+) là số GV thừa so với tổng số GV hiện có, dấu (-) là số GV thiếu so với tổng số GV hiện có Xây dựng mới 50 chương trình đào tạo
Theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT, từ nay đến năm 2024, Bộ sẽ ban hành chuẩn, tiêu chuẩn cùng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý trường phổ thông thống nhất cả nước, trong đó có chương trình đào tạo giáo viên dạy các môn học mới.
Bộ cũng giáo các trường sư phạm trọng điểm, chủ chốt phối hợp với các cơ sở đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý trường phổ thông và Chương trình ETEP tổ chức các tập huấn về đổi mới chương trình, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
Cùng đó, tiến hành nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung đào tạo để xây dựng mới 50 chương trình đào tạo thống nhất trong cả nước; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu và lộ trình đổi mới chương trình, SGK; phối hợp với địa phương xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức các khóa bồi dưỡng tập trung về phát triển các năng lực nghề nghiệp nền tảng.
Cơ sở vật chất còn thiếu hụt để đáp ứng chương trình phổ thông mới
Cả nước có 28.177 cơ sở giáo dục phổ thông công lập, trong đó có 15.050 trường tiểu học, 10.697 trường trung học cơ sở, 2.430 trường trung học phổ thông, 14.883.647 học sinh, 476.924 lớp học và 419.903 phòng học.
Song những điều kiện về phòng học bộ môn, trang thiết bị dạy học, thư viện hiện chưa đáp ứng được nhu cầu.
Các cơ sở giáo dục (đặc biệt ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ) còn nhiều phòng học bán kiên cố, phòng học tạm thời và phải đi thuê, mượn các cơ sở bên ngoài.
Cả nước có 419.903 phòng học, trong đó số phòng học kiên cố khoảng 323.551 phòng, đạt tỷ lệ 77,1% (tiểu học 68,7%, trung học cơ sở 85,7%, trung học phổ thông 93,9%).
Tỷ lệ trung bình phòng học/lớp là 0,88 (tiểu học 0,89; trung học cơ sở 0,86; trung học phổ thông 0,88).
Tỷ lệ trung bình phòng học kiên cố/lớp là 0,68 (tiểu học 0,61; trung học cơ sở 0,74; trung học phổ thông 0,83).
Về phòng học bộ môn, cấp THCS có 30.817 phòng/10.697 trường/146.910 lớp, tương đương tỷ lệ 2,88 phòng/trường (số phòng đáp ứng quy định là 20.573 phòng, đạt tỷ lệ 66,8%).
Cấp THPT có 11.750 phòng/2.349 trường/60.084 lớp, tương đương tỷ lệ 5 phòng/trường (số phòng đáp ứng quy định là 8.555 phòng, đạt tỷ lệ 72,8%).
Số lượng thiết bị phòng học bộ môn mới chỉ đáp ứng được khoảng 68% nhu cầu giảng dạy.
Số lượng bàn ghế 2 chỗ đạt khoảng 63% nhu cầu tối thiểu (cấp tiểu học là 65%, cấp trung học cơ sở là 65%, cấp trung học phổ thông là 60%).
Về thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin, trung bình tại cấp tiểu học 2,1 trường có 01 phòng máy, tại cấp THCS 1,3 trường có 01 phòng máy và cấp THPT mỗi trường có 1,9 phòng máy.
Để đáp ứng được nhu cầu giảng dạy tối thiểu, tại cấp tiểu học và THCS, mỗi trường cần ít nhất 1 phòng máy và đối với cấp THPT, mỗi trường cần ít nhất 2 phòng máy.
Về thiết bị dạy học ngoại ngữ, trung bình tại cấp tiểu học có gần 1 bộ/trường, cấp trung học cơ sở có khoảng 4 bộ/trường và cấp trung học phổ thông có khoảng 14 bộ/trường.
Các thiết bị này chủ yếu là những thiết bị cầm tay, đơn chiếc phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên, các hệ thống thiết bị dạy ngoại ngữ chuyên dùng còn ít.
Theo Bộ GD-ĐT, cần đầu tư xây dựng bổ sung khoảng 57.084 phòng học (Tiểu học 30.344 phòng học, THCS 20.571 phòng học, THPT 6.169 phòng học). Cùng đó, để kiên cố hóa các phòng học, đầu tư xây dựng thay thế 96.352 phòng học (tiểu học 55.035 phòng học, THCS 18.017 phòng học, THPT 3.330 phòng học).
Về phòng học bộ môn, cấp THCS (với quy mô quy ước 1 trường THCS 16 lớp, cần 6 phòng) cần xây dựng bổ sung khoảng 24.300 phòng còn thiếu và 10.244 phòng chưa đáp ứng quy định; cấp THPT (với quy mô quy ước 1 trường THPT 24 lớp, cần 6 phòng) cần xây dựng bổ sung khoảng 3.270 phòng còn thiếu và 3.195 phòng chưa đáp ứng quy định.
Cần bổ sung thêm 27.849 phòng cho thư viện (Tiểu học 15.538 phòng; THCS 9.831 phòng; THPT 2.480 phòng).
Cần bổ sung 156.075 bộ thiết bị (theo danh mục sẽ ban hành) trong đó: Tiểu học 134.328 bộ; THCS 17.099 bộ và THPT 4.648 bộ.
Cần bổ sung thêm ít nhất khoảng 30.112 bộ thiết bị phòng học bộ môn (THCS là 23.613 bộ, THPT là 6.499 bộ).
Thanh Hùng
Thừa giáo viên nhưng vẫn ký hợp đồng số lượng lớn
Theo kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ, một số đơn vị ký hợp đồng với giáo viên, nhân viên thừa so với nhu cầu. Có huyện thừa giáo viên, nhân viên nhưng vẫn tiếp tục ký hợp đồng với số lượng lớn.
">Chương trình giáo dục phổ thông mới: Thiếu hàng ngàn giáo viên
Sự phát triển vượt bậc của công nghệ, mạng xã hội và các dịch vụ truyền thông trên Internet đã có tác động rất lớn đến đời sống của người dân. Công nghệ và ứng dụng phát triển giúp cho việc chia sẻ, tiếp cận thông tin ngày càng thuận tiện và dễ dàng hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức, tăng tính dân chủ, minh bạch và công khai trong xã hội.
Internet là môi trường mở, cho phép người sử dụng được tự do cung cấp, tìm kiếm và chia sẻ thông tin. Tuy nhiên, tùy thuộc vào động cơ, mục đích và nhận thức của cá nhân, tổ chức sử dụng mà thông tin đưa lên Internet là tích cực hoặc tiêu cực, thậm chí đi ngược lại lợi ích chính đáng của cộng đồng, xã hội. Vì vậy, bên cạnh những mặt tích cực và tiện ích mang lại cho xã hội thì trên mạng Internet cũng còn tồn tại nhiều thông tin vi phạm pháp luật.
Theo Bộ TT&TT, tin giả, thông tin xấu độc chủ yếu xuất hiện và lan truyền trên các trang mạng xã hội nước ngoài. Nguyên nhân chính do các mạng này luôn tránh né việc xử lý, ngăn chặn chúng. Bên cạnh đó, một bộ phận người sử dụng mạng xã hội vẫn còn suy nghĩ không gian mạng là ảo, sẽ không bị phát hiện, xử lý nên tự do “xả rác”, tự do phát ngôn, đăng tải thông tin thiếu kiểm soát, thậm chí vi phạm pháp luật.
Các thông tin giả, thông tin xấu độc thường lan truyền trên mạng xã hội xuyên biên giới. Ảnh minh họa: Internet Tin giả, thông tin xấu độc phát tán thì nhanh nhưng việc xử lý, ngăn chặn của các mạng xã hội xuyên biên giới thì vẫn chậm so với mạng xã hội trong nước. Điều này khiến thông tin vi phạm pháp luật tồn tại lâu, ảnh hưởng trên phạm vi rộng. Bên cạnh đó, việc quản lý, kiểm tra, rà soát để phát hiện tin giả, thông tin xấu độc còn gặp nhiều khó khăn.
Tiếp sức cho cuộc chiến chống tin giả
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, trong những năm qua, Bộ TT&TT đã liên tục rà quét, phát hiện và xử lý, ngăn chặn, gỡ bỏ hàng chục nghìn thông tin vi phạm pháp luật, chủ yếu là vi phạm về tin giả, thông tin xấu độc tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước; bôi nhọ uy tín, danh dự, nhân phẩm các tổ chức, cá nhân; quảng cáo vi phạm pháp luật…
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ TT&TT, còn nhiều hạn chế khi xác minh tin đồn là tin giả hay có căn cứ. Việc các cơ quan chức năng xác minh và cung cấp thông tin càng chậm là cơ hội cho tin giả tồn tại và phát tán rộng, gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế, xã hội, an ninh trật tự cũng như quyền và lợi ích của những tổ chức, cá nhân.
Hiện nay, nhiều dịch vụ và phương thức cung cấp nội dung mới phát sinh trên mạng như livestream trên các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới thường phát tán nhanh, khi có vi phạm về nội dung thì mức độ ảnh hưởng lớn, gây bức xúc cho xã hội trong khi việc yêu cầu ngăn chặn, gỡ bỏ theo quy trình mất thời gian. Ngoài ra, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân bị ảnh hưởng trực tiếp thường rất ít phản ánh, khiếu nại tới cơ quan chức năng hoặc khởi kiện theo quy định dẫn đến không đủ căn cứ để xử lý vi phạm.
Bộ TT&TT đánh giá, nguyên nhân của tình trạng này do một số doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam chưa tuân thủ pháp luật Việt Nam, tìm cách né tránh không thực hiện ngăn chặn tin giả, thông tin xấu độc khi có yêu cầu của cơ quan chức năng.
Trong khi đó, việc thiếu sự chủ động khi phối hợp phát hiện, xác minh nội dung vi phạm giữa các bộ, ngành, địa phương gây mất thời gian. Do không được kịp thời xác minh nên một số tin giả, sai sự thật được phát tán rộng rãi.
Nhằm hạn chế tình trạng này, Bộ TT&TT sẽ tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các cơ quan chức năng trong việc xác minh, điều tra, truy vết và xác định hành vi, đối tượng vi phạm quy định về nội dung thông tin để xử lý nghiêm theo luật.
Đổi mới công nghệ trong công tác rà quét, phân tích dữ liệu để phát hiện kịp thời nguồn phát tán thông tin vi phạm, từ đó có biện pháp xử lý phù hợp.
Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, tập trung hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định số 72, Nghị định số 27.
Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho người sử dụng mạng khi cung cấp, sử dụng thông tin trên không gian mạng; tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm của các đơn vị cung cấp dịch vụ nội dung trên mạng để cùng chung tay xây dựng không gian mạng lành mạnh, an toàn.
Đồng thời, Bộ TT&TT cũng nghiên cứu có chính sách phù hợp để khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, sản xuất sản phẩm có giá trị văn hóa, tinh thần phục vụ nhu cầu của độc giả theo phương châm lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, đẩy mạnh phát triển nội dung thông tin có ích trên mạng.
Duy Vũ
">Gian nan cuộc chiến chống tin giả trên các nền tảng xuyên biên giới